Giáo Dục

Hơn 96% sinh viên Y dược có việc làm, chiếm tỷ lệ cao nhất

Hơn 88% sinh viên tìm được việc làm trong vòng 12 tháng sau khi tốt nghiệp, trong đó, ngành Dược có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất.

Con số được trích từ báo cáo đánh giá việc làm sau đại học năm 2020 của Trung tâm Hỗ trợ đào tạo và Cung ứng nguồn nhân lực, Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đơn vị này đã khảo sát tình trạng việc làm trong khoảng 12 tháng sau khi tốt nghiệp của hơn 1.600 sinh viên đến từ 15 trường đại học, học viện trên cả nước.

Kết quả cho thấy tỷ lệ tìm được việc làm chiếm 88,3% trên tổng số người được hỏi. Số người thất nghiệp là 9,1%. Tỷ lệ nhỏ còn lại cho biết chưa có việc làm nhưng không có nhu cầu tìm việc làm.

Phân tích tình hình việc làm theo kết quả tốt nghiệp cho thấy tỷ lệ “có việc làm” tăng theo cấp bậc – cấp bậc càng tốt thì khả năng có việc làm càng cao. Nếu như tỷ lệ tìm được việc làm của nhóm trung bình tốt nghiệp chỉ đạt 77,8% thì nhóm loại giỏi lên đến 94,5%. Đoàn khảo sát cho rằng, đây là minh chứng cho sự cố gắng của học sinh trong lớp học.

Theo lĩnh vực đào tạo, Nhóm y học chiếm tỷ lệ việc làm cao nhất, 96,3%, tiếp theo là Khoa học xã hội, Kinh tế, Luật, Nông lâm – Thủy sản (89,6%) và nhóm cuối cùng là Khoa học tự nhiên, Kỹ thuật, Công nghệ, Thể thao và Nghệ thuật (84%).

Tỷ lệ tìm được việc làm sau 12 tháng, theo ngành đào tạo. Biểu đồ trích dẫn từ báo cáo

Tỷ lệ tìm được việc làm sau 12 tháng, theo ngành đào tạo. Biểu đồ trích dẫn từ báo cáo

Báo cáo cũng cho thấy 93,6% sinh viên mới ra trường chọn công việc có lương. 6,4% còn lại tự tạo việc làm, được nhóm nghiên cứu cho là một con số đáng khích lệ vì họ không chỉ tự tạo việc làm cho mình mà còn tăng cơ hội việc làm cho những người lao động khác.

Tỷ lệ thay đổi việc làm sau khi tốt nghiệp 12 tháng là khoảng 40,4%. Trong đó, tỷ lệ nhảy việc của nữ cao hơn nam (44,1% so với 35,6%). Con số này ở người dân tộc khác và người Kinh lần lượt là 54,9% và 39,6%.

Học sinh thuộc hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo có tỷ lệ chuyển đổi nghề nghiệp cao (51,8%) so với học sinh thuộc hộ không nghèo (39,7%). Kết quả cho thấy những nhóm yếu thế thường sẵn sàng làm những công việc khác nhau và luôn tận dụng cơ hội để có được những công việc tốt hơn.

Ngoài những dữ liệu thu thập được, nhóm nghiên cứu cũng nhận thấy những trở ngại khi tìm việc. Theo đó, 5 khó khăn lớn nhất gồm: thiếu hoặc chưa có kinh nghiệm hành nghề, nghiệp vụ; thiếu trình độ ngoại ngữ và tin học; thị trường lao động bão hòa; thiếu hiểu biết về thị trường lao động; Công việc nhận được không trả một mức lương đảm bảo.

Khó khăn khi tìm việc đối với sinh viên ra trường đã có việc làm. Biểu đồ trích dẫn từ báo cáo

Khó khăn khi tìm việc đối với sinh viên ra trường đã có việc làm. Biểu đồ trích dẫn từ báo cáo

Duong Tam