Kinh Doanh

Mất cát, phù sa : ĐBSCL dần tan rã


Đồng bằng sông Cửu Long được hình thành như thế nào?

Đồng bằng sông Cửu Long Nơi đây được coi là vùng đất trẻ về tuổi địa chất, được hình thành cách đây 6.000 – 8.000 năm nhờ quá trình bồi đắp của bùn cát từ thượng nguồn. Sông Mekong và quá trình rút lui. Trong tiếng Việt, thuật ngữ “Phù sa”Hoặc“ bùn cát ”là hỗn hợp của cả bùn và cát và sỏi (sa khoáng). Bùn và các chất lơ lửng khác di chuyển nhanh theo thời gian trong ngày, tháng, theo mùa, nhưng cát, sỏi thô di chuyển chậm theo mùa lũ, có khi phải mất vài năm, thậm chí hàng chục năm mới trôi xuống ruộng. đơn giản.

Mất cát, phù sa: Đồng bằng sông Cửu Long dần tan rã - ảnh 1

Ở hạ lưu lưu vực sông Mekong, Campuchia và Việt Nam rất khác với thác cát hàng năm

Nguồn dữ liệu: Bravard JP và M. Goichot (2012), đồ họa: Lê Anh Tuấn

Khi ra biển, cát, sỏi thô tiếp tục bị sóng đánh tạo thành cồn cát ven bờ. Càng trôi về phía hạ lưu, các hạt sa khoáng sẽ càng nhỏ và càng gần biển, các hạt cát càng mịn.

Trước đây, thỉnh thoảng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long khi đào móng nhà, đào móng nhà, người ta thường bắt gặp những viên đá xanh, đen hình tròn to bằng nắm tay đến quả dừa. Người ta vẫn gọi họ là những “ông đồ, ông trời”. Thực chất đó là những khoáng vật đá từ thượng nguồn sông Cửu Long, trải qua nhiều trận lũ lớn, bị dòng nước đẩy đi, ma sát, xói mòn cho đến khi mất hết góc cạnh.

Khi phù sa thượng nguồn đổ về đồng bằng, dòng chảy được mở rộng, tốc độ dòng chảy cũng nhẹ nhàng. Khi thủy triều lên xuống, xô đẩy, phù sa sẽ được bồi đắp và sau đó sẽ dần hình thành một lớp phù sa. Trầm tích tích tụ hết lớp này đến lớp khác. Quá trình kiến ​​tạo châu thổ tiếp tục diễn ra dai dẳng trong nhiều thế kỷ.

Nếu coi đồng bằng sông Cửu Long là cơ thể sống thì cát là bộ xương, sông rạch là mạch máu; đất đai, cây cỏ là ruột thịt; Các vùng đất ngập nước với nhịp điệu dòng chảy vào và dòng chảy ra đóng vai trò như các cơ quan duy trì hệ sinh thái. Cuối cùng, nền văn minh sông nước là linh hồn của vùng châu thổ.

Từng đứng thứ 10 về tải lượng phù sa

Theo nghiên cứu do Milliman & Syvitski (1992) công bố, lượng phù sa của sông Mekong trước năm 1990 lên tới 160 triệu tấn / năm, đứng thứ 10 trên thế giới. thế giới về tải trọng phù sa (Meade, 1996). Nhờ lượng phù sa này, hơn 7.000 năm trước, dòng chảy Biển Đông đã giúp vùng châu thổ mở rộng ra biển trung bình khoảng 30m / năm (Liu et al., 2017). Trong 3.000 năm qua, cửa sông Mekong đã mở rộng với tốc độ khoảng 16 m / năm. Đặc biệt ở mũi Cà Mau, mỗi năm rừng ngập mặn vươn ra biển khoảng 40 – 70 m / năm.

Tuy nhiên, hiện nay, tình trạng bồi tụ phù sa sông Cửu Long ngày càng trầm trọng, cùng với đó là tình trạng sạt lở bờ sông, bờ biển ngày càng gia tăng. Nguyên nhân chính là trong khoảng 2-3 thập kỷ trở lại đây, đặc biệt là sau những năm 1990, sự phát triển bùng nổ của hàng loạt dự án thủy điện ở thượng nguồn, trong đó có các dự án dòng chính ở Trung Quốc và các phụ lưu ở hạ lưu, chủ yếu ở Lào. Các đập thủy điện ngăn dòng chảy, tạo ra những hồ chứa nước khổng lồ đã trở thành bẫy phù sa.

Mất cát, phù sa: Đồng bằng sông Cửu Long dần tan rã - ảnh 2

Phù sa bồi đắp cho đồng bằng sông Cửu Long đang giảm dần từng ngày

Kết quả quan trắc do Ủy ban sông Mekong (MRC) công bố năm 2013 cho thấy, từ năm 2003 đến sau năm 2009, lượng phù sa trung bình tại trạm Chiang Saen (Thái Lan) giảm từ 10 đến 60 triệu tấn (giảm 83 triệu tấn). %); ở Pakse (Lào) giảm từ 60-120 triệu tấn / năm (giảm 50%) và ở Kratie (Campuchia) giảm từ 90 – 160 triệu tấn / năm (giảm 43%).

\N

Các chuyên gia của Quỹ Thiên nhiên Thế giới (WWF) (Jean-Paul và cộng sự, 2013) cảnh báo rằng nếu thực hiện tất cả các kế hoạch xây dựng thủy điện trên dòng chính và các nhánh sông Mekong thì tổng lượng phù sa và cát trở lại sông Mekong Delta chỉ bằng 20% ​​so với trước đây.

Hậu quả của việc mất phù sa

Sự suy giảm phù sa ngày càng rõ nét khi những năm gần đây, người dân vùng biên giới Thái Lan – Lào và có khi ở Campuchia – Việt Nam đã chứng kiến ​​nước sông Cửu Long chuyển từ màu nâu đỏ của phù sa sang màu xanh biếc. của biển. đặc biệt là vào mùa khô. Hệ quả là “nước bỏ phù sa” khiến dòng chảy ngày càng hung hãn, làm gia tăng tình trạng sạt lở trên diện rộng. Hiện nay, mỗi năm vùng ven biển bị sạt lở, xâm thực khoảng 500-550 ha với trên 1.100 điểm sạt lở ở hầu hết các tỉnh, thành ĐBSCL.

Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng cát ngày càng cao, các mỏ cát trên sông khai thác quá mức, vượt quá khả năng bù đắp của lượng phù sa, cát ít ỏi từ sông Cửu Long. Cũng theo báo cáo của WWF năm 2013, các nước hạ lưu sông Mekong đã khai thác 35 triệu m3 cát trong hai năm 2011 – 2012, trong đó Campuchia khai thác khoảng 21 triệu m3.3 cát, Việt Nam khai thác gần 8 triệu m3 cát, Thái Lan 4,5 triệu m3 cát và Lào khoảng 1,4 triệu m3 cát.

Mất cát, phù sa: Đồng bằng sông Cửu Long dần tan rã - ảnh 3

Trong khi phù sa từ thượng nguồn đổ về cho ĐBSCL ngày càng giảm thì nạn khai thác cát ở khu vực này vẫn diễn ra.

Hoạt động khai thác cát đã làm thay đổi dòng chảy, hạ thấp lòng sông và mất ổn định đôi bờ, dẫn đến tình trạng sạt lở ngày càng gia tăng, nhất là những đoạn sông có nhiều công trình nặng được xây dựng sát bờ. Bên cạnh đó, tình trạng đắp bờ để tăng diện tích cấy lúa 3 vụ ở các tỉnh đầu nguồn cũng vô tình thu hẹp dòng chảy trong mùa lũ, làm tăng tốc độ dòng chảy dưới lòng sông, làm tăng nguy cơ sạt lở. Riêng vùng ven biển Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích rừng ngập mặn giảm còn làm gia tăng rủi ro thiên tai, nước biển dâng, đặc biệt là mất khả năng giữ phù sa …. Trong bối cảnh đó, việc khai thác quá mức của nước ngầm khiến đồng bằng sông Cửu Long sụt lún nhanh hơn. Riêng khu vực Bán đảo Cà Mau, có hơn 130.000 giếng khoan ngày đêm hút nước khiến nơi đây bị sụt lún bình quân từ 1 – 3 cm / năm.

Vấn đề khó khăn

Trong bối cảnh phù sa, cát giảm và nhu cầu sử dụng cát mỗi ngày một tăng, hơn bao giờ hết, các địa phương ĐBSCL phải tìm cách thích ứng để cứu lấy tương lai của mình. Trước hết, cần tính đến vật liệu thay thế cho cát dù giá thành cao hơn. Trong Công nghệ vật liệu xây dựng, phải tính đến giải pháp giảm lượng cát, xi măng sử dụng … Đặc biệt, không nên phê duyệt dự án sân golf sử dụng cát san lấp khi mỗi sân golf 18 lỗ ước tính cần 1 triệu – 1,5 triệu m.3 cát để san lấp mặt bằng. Đồng thời, cần quản lý sông rạch chặt chẽ hơn, không bố trí định cư mới ven sông, giải tỏa dần các công trình, nhà ở ven sông để hạn chế sạt lở. Ngành thủy lợi cần nghiên cứu điều tiết sông để có đề xuất xây dựng các công trình ổn định lòng sông tại các vị trí kinh tế, dân cư trọng điểm …

Mất cát, phù sa: Đồng bằng sông Cửu Long dần tan rã - ảnh 4

Giai đoạn 2016 – 2020, Chính phủ đã phải chi gần 12.000 tỷ đồng để phòng chống, khắc phục sạt lở

Hai năm trước, Thủ tướng ban hành Quyết định 957 / QĐ-TTg ngày 6/7/2020 phê duyệt “Đề án phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển đến năm 2030”. Dự án có nhiều giải pháp như rà soát, hoàn thiện các chính sách, pháp luật liên quan đến công tác phòng, chống sạt lở bờ sông, bờ biển. Thực hiện các giải pháp trước mắt và lâu dài, các công trình và phi công trình phòng, chống sạt lở. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ công tác phòng, chống sạt lở đất…. Mặc dù các giải pháp này không thể ngăn chặn triệt để nguy cơ sạt lở nhưng điều cần thiết là hạn chế thấp nhất thiệt hại.

Tuy nhiên, có một tác hại lớn hơn nhiều so với sạt lở đất, đó là làm mất phù sa và cát bồi lấp đồng bằng. Không có phù sa thì cát không thể hình thành cũng như kiến ​​tạo ổn định nên vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nói cách khác, việc mất phù sa, cát, sạt lở sẽ làm cho đồng bằng sông Cửu Long bị thu hẹp dần diện tích mặt đất tự nhiên. Viễn cảnh về một quá trình trái ngược với quá trình bồi tụ và tan rã của đồng bằng ngày càng rõ ràng hơn.





Source link

Tin Tức 7S

Tin tức 7s: Cập nhật tin nóng online Việt Nam và thế giới mới nhất trong ngày, tin nhanh thời sự, chính trị, xã hội hôm nay, tin tức chính thống VN.Cập nhật tin tức 24/7: Giải trí, Thể thao...tại Việt Nam & Thế giới hàng ngày. Thông tin, hình ảnh, video clip HOT cập nhật nhanh & tin cậy nhất.

Related Articles

Back to top button