Công Nghệ

Những mạng người được cứu sống nhờ khoa học

PGS.TS Phạm Gia Khánh vẫn không khỏi xúc động khi kể về những trường hợp đứng giữa sự sống và cái chết, chỉ còn tia hy vọng cuối cùng là ghép tạng.

Trong buổi tổng kết Chương trình “Nghiên cứu ứng dụng công nghệ tiên tiến bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng” (KC.10) sáng 27/10, GS.TS Phạm Gia Khánh, Chủ nhiệm Chương trình, đã nêu ra một danh sách dài. các kỹ thuật mới đã được nghiên cứu và ứng dụng thành công tại Việt Nam trong 5 năm qua.

Trong số 46 nhiệm vụ của toàn chương trình, GS Khánh cho biết, nhiều kỹ thuật y học tiên tiến về ghép tạng, công nghệ gen, công nghệ phôi đã được phát triển và hoàn thiện, góp phần đưa nền y học Việt Nam đạt chuẩn hiện nay. các nước trên thế giới.

Với công nghệ ghép tạng, GS Khánh nhắc lại câu chuyện của em Lý Chương Bình (7 tuổi, xã Bát Đại Sơn, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang) đã được ghép phổi thành công từ người cho sống đầu tiên ở Việt Nam trong tình trạng nguy kịch. quá khứ. Tháng 2 năm 2017.

Bệnh nhân sau đó bị giãn phế quản lan tỏa bẩm sinh cả hai phổi, có biến chứng suy hô hấp, giãn phế quản và suy dinh dưỡng độ III, buộc phải thay cả hai phổi. “Ghép phổi là lựa chọn duy nhất để cứu sống bệnh nhân và cho hy vọng sống khỏe mạnh”, GS Khánh nói. Khi đó, Học viện Quân y đã phối hợp với chuyên gia Nhật Bản phẫu thuật cắt toàn bộ, sau đó lấy một thùy phổi của bố và một thùy phổi của người bác ruột của bé để ghép. Ca cấy ghép thành công. “Hiện cháu bé đã sống khỏe mạnh”, GS Khánh xúc động nói và cho biết đây là kết quả của nhiệm vụ “Nghiên cứu ghép thùy hoặc phổi từ người cho sống, người chết não” do GS. TS Đỗ Quyết (Trường Khoa học và Công nghệ). Viện Quân y) làm chủ nhiệm đề tài.

Các bác sĩ Học viện Quân y thực hiện ca ghép tạng cứu sống cháu bé 7 tuổi. Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ

Các bác sĩ Học viện Quân y thực hiện ca ghép tạng cứu sống bé trai 7 tuổi. Ảnh: Đại học quân y

Nhận thấy ưu điểm tối ưu từ kỹ thuật này, chỉ một năm sau, Bệnh viện 108 và Bệnh viện Việt Đức đã thực hiện thành công ca ghép phổi từ người cho chết não và mở ra hướng điều trị mới cho bệnh phổi giai đoạn cuối tại Việt Nam. Thành công này ghi tên Việt Nam trên bản đồ ghép tạng thế giới. Đến nay, tại Việt Nam đã có bốn ca ghép phổi thành công.

Theo GS Khanh, nhiều kỹ thuật tiên tiến hiện đã trở thành thường quy tại nhiều bệnh viện trong cả nước. Trong số này có kỹ thuật sử dụng tế bào gốc máu cuống rốn áp dụng cho bệnh nhân mắc các bệnh về máu, từ đề tài do bác sĩ Bạch Quốc Khánh, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương làm chủ nhiệm đề tài; nghiên cứu ứng dụng tế bào gốc tự thân điều trị cho bệnh nhân đột quỵ do thiếu máu cục bộ (đột quỵ não) do PGS.TS. GS.TS Nguyễn Hoàng Ngọc, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108; Ứng dụng quang đông bằng laser trong chẩn đoán và điều trị hội chứng truyền máu song thai và cắt ối do PGS.TS. Bác sĩ Nguyễn Duy Ánh, Bệnh viện Phụ sản Hà Nội làm giám đốc; Ghép tế bào gốc từ mô mỡ tủy xương ứng dụng trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính là đề tài của GS.TSKH Ngô Quý Châu, Bệnh viện Bạch Mai …

GS Phạm Gia Khánh báo cáo kết quả chương trình. Ảnh: Lê Bắc

GS Phạm Gia Khánh (nguyên Giám đốc Học viện Quân y) báo cáo kết quả chương trình. Ảnh: Lê Bắc

Các sứ mệnh của chương trình cũng giúp nghiên cứu và phát triển nhiều kỹ thuật tiên tiến trong công nghệ sinh học phân tử. Sử dụng kỹ thuật này, Việt Nam đã sản xuất được các bộ kit hữu hiệu như: Bộ kit phát hiện mức độ đứt gãy ADN của tinh trùng phục vụ cho việc chẩn đoán vô sinh nam; bộ dụng cụ chẩn đoán ký sinh trùng sốt rét, sán lá gan …

“Kết quả ứng dụng từ chương trình giúp nâng cao khả năng chẩn đoán và điều trị cho bệnh nhân, góp phần cứu sống nhiều bệnh nhân và giảm chi phí điều trị so với ra nước ngoài”, GS Khánh nói.

GS. Tiến sĩ Lê Bách Quang, Ủy viên Ban điều hành Chương trình cho biết, giai đoạn 2016 – 2020, chương trình hướng đến các nghiên cứu mũi nhọn như ghép tạng, truyền máu song sinh, kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị ung thư. , các kỹ thuật chẩn đoán trước sinh, ứng dụng công nghệ tế bào gốc trong điều trị.

PGS. GS.TS Nguyễn Tiến Quyết, nguyên Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, đánh giá sự phát triển nhanh chóng của nghiên cứu và kỹ thuật, bắt kịp trình độ thế giới. Tuy nhiên, ông khẳng định vẫn còn nhiều khó khăn như rào cản về cơ chế tài chính, thủ tục pháp lý dẫn đến việc các nhà khoa học chưa có nhiều ưu đãi. Ông đề nghị thời gian tới cần đổi mới, trong đó giao toàn quyền cho nhà khoa học tự hoạt động để lựa chọn nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý có sản phẩm, đầu ra của dự án. PGS. GS Quyết cũng đề xuất chọn những kết quả tốt nhất để khen thưởng nhằm khuyến khích hoạt động nghiên cứu, sáng tạo.

Ông Nguyễn Ngô Quang (Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế) đánh giá cao kết quả đạt được và cho rằng thành công của ngành Y tế liên quan mật thiết đến thành công của chương trình KC 10. Anh Quang cũng đề xuất một cơ hội. Có cơ chế phối hợp giữa Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Y tế để ngày càng có nhiều kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong điều trị, phòng bệnh, đưa sản phẩm vào cuộc sống.

Một sản phẩm từ sứ mệnh của chương trình KC.10 được ứng dụng trong cuộc sống.

Một số loại bộ dụng cụ được nghiên cứu và phát triển từ nhiệm vụ của chương trình KC 10. Ảnh: HM

Ghi nhận những đóng góp từ Chương trình, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Văn Tùng đánh giá: “Nhiều kết quả đã được ứng dụng để cứu người”. Kết quả đó là sự tâm huyết và đam mê của các bác sĩ, chuyên gia, nhà khoa học vừa làm công tác chuyên môn, vừa kết hợp với nghiên cứu chuyên sâu.

Thứ trưởng Tùng gọi đây là “niềm tự hào của ngành khoa học và công nghệ Việt Nam”. Anh cũng mong muốn có sự kết nối, nhận được sự đầu tư nhiều hơn nữa của các doanh nghiệp để phát triển kết quả chương trình đi vào thực tiễn. “Các hoạt động đầu tư, đồng hành từ doanh nghiệp, đầu ra từ quy trình điều trị và sản phẩm sẽ giúp chương trình hoàn thiện hơn, mang lại ý nghĩa kinh tế và xã hội”, ông nói.

Chương trình KC.10 được Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt triển khai từ năm 2016 đến tháng 7 năm 2021. Mục tiêu của chương trình là ứng dụng và phát triển các kỹ thuật, khoa học công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực y dược để tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao. hàm lượng khoa học và công nghệ ngang tầm các nước hàng đầu ASEAN. khu vực đạt trình độ của các nước tiên tiến trên thế giới; nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị và phòng chống dịch bệnh ở người; giảm tỷ lệ mắc, tử vong và bệnh tật, nâng cao sức khỏe, tăng tuổi thọ, cải thiện giống nòi.

Sau 5 năm triển khai, KC.10 đã thực hiện được 40 đề tài và 6 dự án, phân bổ đều về các nội dung nghiên cứu, vượt xa chỉ tiêu 80% nhiệm vụ có kết quả nghiên cứu ứng dụng. Trong đó, đã công nhận 41 công bố quốc tế, 25 sáng chế, giải pháp hữu ích, đào tạo 85 thạc sĩ, 7 bác sĩ nội trú và 48 nghiên cứu sinh cho gần 500 người. các nhà khoa học tham gia nghiên cứu.

Như Quỳnh

.

Nguồn: https://vnexpress.net/nhung-mang-nguoi-duoc-cuu-song-nho-khoa-hoc-4377719.html

Tin Tức 7S

Tin tức 7s: Cập nhật tin nóng online Việt Nam và thế giới mới nhất trong ngày, tin nhanh thời sự, chính trị, xã hội hôm nay, tin tức chính thống VN.Cập nhật tin tức 24/7: Giải trí, Thể thao...tại Việt Nam & Thế giới hàng ngày. Thông tin, hình ảnh, video clip HOT cập nhật nhanh & tin cậy nhất.

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Back to top button