Kinh Doanh

.: VGP News :. | Quy hoạch cảng biển Việt Nam: Cách làm mới, diện mạo mới

637555759074664486 jpg
Dự báo đến năm 2030, lượng hàng hóa thông qua toàn bộ hệ thống cảng biển của Việt Nam sẽ gấp 1,6-2,1 lần. Vào năm 2050, nó sẽ cao hơn 4,1-4,8 lần so với hiện tại. Ảnh: CMIT

Lần đầu tiên, quy hoạch 5 chuyên ngành trong lĩnh vực giao thông – vận tải (đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, hàng hải, hàng không) được Chính phủ chỉ đạo Bộ GTVT triển khai đồng loạt. Bức tranh toàn cảnh của ngành GTVT cả nước trong 10 năm tới, tầm nhìn đến năm 2050 đang được Bộ GTVT, các đơn vị chuyên môn, bộ, ngành khẩn trương phối hợp trình Chính phủ phê duyệt trong thời gian sớm nhất.

Đối với quy hoạch hệ thống cảng biển Việt Nam, mặc dù quy hoạch tổng thể cảng biển đã được xây dựng và thực hiện trong 20 năm qua, nhưng đây cũng là lần đầu tiên quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam được xây dựng trong 20 năm qua. . Giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 sẽ được thực hiện với trình tự thủ tục chặt chẽ được quy định trong Luật Quy hoạch và các văn bản hướng dẫn Luật Quy hoạch.

Điểm mới

Trao đổi với Báo Điện tử Chính phủ, ông Nguyễn Xuân Sang, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam (Bộ Giao thông Vận tải) cho biết, Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, đã được trình bày chi tiết. được Cục Hàng hải Việt Nam phê duyệt và được Hội đồng thẩm định Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Hội đồng thẩm định – PV) thông qua sau khi rà soát tổng thể, xác định rõ vai trò. của từng phương thức trên từng hành lang vận tải chính trên cơ sở lợi thế vận tải của từng vùng, đảm bảo tính hợp lý, đồng bộ trong kết nối các phương thức vận tải. tải trọng.

“Trong quy hoạch 5 chuyên ngành GTVT, các cảng biển được ưu tiên lựa chọn vị trí. Các phương thức khác (đường thủy nội địa, đường bộ, đường sắt) tùy theo lượng hàng hóa thông qua cảng, chủng loại hàng hóa, khoảng cách, điều kiện tự nhiên và khả năng huy động nguồn lực sẽ được ưu tiên kết nối. với vai trò tập kết, giải phóng hàng hóa cho cảng biển ”, ông Nguyễn Xuân Sang cho biết.

Một điểm mới nữa là quy hoạch này đưa nội dung của Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 vào thực tiễn, xác định rõ vai trò cũng như định hướng phát triển hệ thống cảng nội địa (ICD) tại các cảng biển nước sâu. lục địa với tư cách là “cánh tay nối dài” của hệ thống cảng biển.

Đây cũng là lần đầu tiên các cảng phục vụ phương tiện thủy nội địa trong vùng nước cảng biển được đưa vào đề án quy hoạch nhằm tháo gỡ nút thắt giao thông kết nối vào cảng biển trong thời gian qua. Đáng chú ý, quy hoạch mới ưu tiên tận dụng hiệu quả vận tải thủy nội địa vì đây là phương thức vận tải vừa có sức tải lớn, vừa hạn chế ô nhiễm môi trường.

Quy hoạch cũng nghiên cứu, bổ sung quy hoạch “bến mềm” – bến nổi, trong khi trước đây đây chỉ được coi là giải pháp tạm thời để giải quyết các nhu cầu phát sinh trong vận tải hàng hóa bằng đường biển.

Việc bổ sung, quy hoạch bến mềm, theo ông Sáng sẽ là cơ sở để quản lý, phát triển hài hòa kết cấu hạ tầng bến cứng và bến mềm trên cơ sở tận dụng tối đa lợi thế giao thông ở những khu vực có điều kiện thuận lợi. điều kiện tự nhiên như: vùng Bắc Bộ (Quảng Ninh), vùng Đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long … vừa đáp ứng nhu cầu vận tải, vừa đảm bảo an toàn, an ninh, kiểm soát môi trường, tăng hiệu quả đầu tư và khai thác cảng biển.

Điểm đột phá quan trọng mà Cục trưởng Cục Hàng hải thông tin là quy hoạch này tích hợp nội dung phát triển cảng biển, trong đó có không gian phát triển vùng đất, vùng nước.

Trong đó, đất cảng bao gồm diện tích vùng nước phục vụ nhu cầu neo đậu, trung chuyển hàng hóa, tránh bão, đất cảng biển và dịch vụ hậu cần sau cảng, đảm bảo tổng thể yêu cầu sử dụng của cảng. hiệu quả tài nguyên thiên nhiên để phát triển cảng biển và các công trình hạ tầng hỗ trợ.

Quy hoạch cũng đưa ra một số quan điểm mới trong phát triển cảng biển như thúc đẩy ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào xây dựng, quản lý và khai thác, hướng tới xây dựng “cảng biển xanh”. , tiết kiệm năng lượng, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên của đường bờ.

Một số giải pháp cơ chế mới cũng được đề cập trong phương án này như: Thể chế hóa quy định phân cấp mạnh nhằm tăng khả năng huy động nguồn lực và khai thác nguồn lực từ quỹ đất.

“Điểm đột phá nhất của quy hoạch lần này là xây dựng quy hoạch trên cơ sở tích hợp, phát triển đồng bộ theo không gian hành chính và các ngành, giúp phát triển hạ tầng cảng biển nói riêng và hạ tầng nói chung đảm bảo tính đồng bộ và kết nối cao”, ông Nguyên nói. Xuân Sang.

jpg
Cảng Tân Vũ – Lạch Huyện.

Kết nối hạ tầng dựa trên lợi thế vùng

Giải pháp kết nối cảng biển với bến hàng hóa nội địa cho từng nhóm cảng đã được định hướng trong quy hoạch này và được Bộ GTVT chỉ đạo nghiên cứu quy hoạch mạng lưới đường bộ, đường thủy nội địa và đường sắt. , đảm bảo tính đồng bộ, phát huy hiệu quả của từng phương thức vận tải.

Trước mắt, giai đoạn 2021-2030, khu vực phía Bắc cần tập trung nâng tĩnh các cầu trên hành lang đường thủy nội địa số 1 và số 2 để tăng cường phương thức vận tải container bằng đường thủy vào các cảng biển. Hải Phòng, Quảng Ninh; đầu tư đường sau cảng Lạch Huyện và mở rộng đường Tân Vũ – Lạch Huyện.

Miền Trung ưu tiên cải tạo, nâng cấp hành lang Đông Tây nối Tây Nguyên và các cửa khẩu ra cảng biển.

Khu vực phía Nam cần hoàn thiện các tuyến đường vành đai, đường liên cảng, đường cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu; hành lang hậu cần đường thủy nội địa kết nối với miền Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ và tổ chức khai thác hiệu quả các tuyến vận tải ven biển trên hành lang Bắc – Nam.

“Các phương thức kết nối sẽ tập trung phát triển loại hình kết nối theo thế mạnh của từng vùng. Ví dụ, khu vực phía Nam và phía Bắc có hệ thống sông rạch tốt thì cần thúc đẩy vận tải thủy nội địa kết nối với cảng biển. Khu vực miền Trung có địa hình hẹp, bờ biển dài, cần tập trung khai thác hiệu quả các tuyến vận tải ven biển, đường kết nối trên hành lang Đông Tây ”, ông Nguyễn Xuân Sang nhấn mạnh.

Quy hoạch đột phá, thu hút đầu tư

Trong hơn 10 năm qua, hàng hóa thông qua các cảng biển của Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 11% / năm. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã định hướng tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021-2030 bình quân 7% / năm.

Các hiệp định thương mại tự do đã và đang được thực hiện sẽ thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế giữa Việt Nam với các nước. Dự báo đến năm 2030, lượng hàng hóa thông qua toàn bộ hệ thống cảng biển của Việt Nam sẽ gấp 1,6-2,1 lần. Vào năm 2050, nó sẽ cao hơn 4,1-4,8 lần so với hiện tại.

Để đáp ứng nhu cầu hàng hóa thông qua, hệ thống cảng biển Việt Nam trong quy hoạch tổng thể này được quy hoạch phù hợp với quy định của pháp luật, lợi thế về điều kiện tự nhiên và nhu cầu phát triển kinh tế của từng địa phương. , mỗi vùng; có sự phân cấp vai trò của từng cảng và định hướng phương thức kết nối cảng biển với bến hàng hóa để tạo thành một thể thống nhất.

Trong đó, hai cảng biển đặc biệt là Hải Phòng và Bà Rịa-Vũng Tàu đóng vai trò là cửa ngõ quốc tế kết hợp trung chuyển quốc tế và tiếp nhận tàu đi trên các tuyến đường biển dài. 15 Cảng loại I phục vụ cả nước hoặc liên vùng tiếp nhận tàu đi các tuyến nội Á, Úc, Phi; 19 cảng biển loại II, III là cảng biển quy mô vừa và nhỏ phục vụ vùng và địa phương, tiếp nhận tàu vận tải hàng hóa trên các tuyến đường biển cự ly ngắn và trung bình, làm cảng vệ tinh làm hàng. cảng biển chính, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương thu hút đầu tư, chủ động trong xuất nhập khẩu hàng hóa.

Tổng kinh phí phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam đến năm 2030 ước tính khoảng 300-320 nghìn tỷ đồng (chưa bao gồm chi phí đầu tư các cảng, bến chuyên dùng).

“Nội dung quy hoạch mà chúng tôi xây dựng đã xác định rõ, nguồn vốn ngân sách Nhà nước chỉ tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng cảng biển quan trọng, có sức lan tỏa và hiệu quả kinh tế – xã hội lớn. Cái chính là cơ sở hạ tầng công cộng (luồng tàu, đê chắn sóng, chắn cát, hệ thống giao thông kết nối …). Đối với việc đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển, sẽ đẩy mạnh xã hội hóa, tăng cường vai trò của doanh nghiệp trong việc chia sẻ trách nhiệm đầu tư, bảo trì kết cấu hạ tầng công cộng tại cảng biển trong dự án đầu tư khai thác cảng biển của doanh nghiệp ”, ông Nguyễn Xuân Sang cho biết.

Trong giai đoạn tới, các cơ quan chức năng tiếp tục hoàn thiện cơ chế để huy động nhiều nguồn lực trong và ngoài nước tham gia đầu tư theo quy hoạch thông qua các hình thức đầu tư phù hợp với quy định của pháp luật. . Ưu tiên các nguồn vốn đầu tư lớn, bảo đảm phát triển cảng biển theo hướng đồng bộ, tiến thẳng lên hiện đại, không đầu tư manh mún, nhỏ lẻ đối với các cảng biển, cầu cảng quy mô lớn.

Thông tin thêm, Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam cho biết, giai đoạn 2011-2020, việc huy động vốn xã hội hóa trong lĩnh vực hàng hải được thực hiện có hiệu quả. Trong tổng số 202 nghìn tỷ đồng huy động, vốn đầu tư của doanh nghiệp đạt 173 nghìn tỷ đồng (chiếm 86%), nộp ngân sách Nhà nước đạt hơn 28 nghìn tỷ đồng (chiếm 14%).

Phan Trang

.

Nguồn: https://baochinhphu.vn/Kinh-te/Quy-hoach-cang-bien-Viet-Nam-Cach-lam-moi-dien-mao-moi/437606.vgp

Tin Tức 7S

Tin tức 7s: Cập nhật tin nóng online Việt Nam và thế giới mới nhất trong ngày, tin nhanh thời sự, chính trị, xã hội hôm nay, tin tức chính thống VN.Cập nhật tin tức 24/7: Giải trí, Thể thao...tại Việt Nam & Thế giới hàng ngày. Thông tin, hình ảnh, video clip HOT cập nhật nhanh & tin cậy nhất.

Related Articles

Back to top button