Tin Tức

Vĩnh Tế – kênh đào lớn nhất miền Tây

An giangDài 87 km, rộng 30 m, thủ công đào mất 5 năm với hơn 80.000 nhân công, Vĩnh Tế là con kênh lớn nhất Việt Nam thời phong kiến ​​cách đây 200 năm.

Chiều đến, ông già Sáu Nở (70 tuổi, Phú Nhứt, An Phú, Tịnh Biên) đi bộ ra bờ kênh Vĩnh Tế trước nhà để soi mực nước. Vào mùa khô, nước đã rời bãi biển khá xa. Nhìn dòng kênh róc rách chảy ì ạch, ông Sáu quyết định đợi đến chiều cho lượng nước lớn sẽ bơm vào các bồn nhựa để nuôi lươn trong vườn. Đàn lươn 5.000 con của anh mới gầy được vài tháng, dự kiến ​​sau 8-9 tháng sẽ xuất bán lứa đầu tiên.

“Bây giờ nước sông ô nhiễm phân lắm nên ăn phải chúng tôi phải cẩn thận”.

Ông Nguyễn Văn Nở bên bờ kênh Vĩnh Tế, tả lại mực nước những năm lũ lớn.  Ảnh: Hoàng Nam

Ông Sáu Nở bên bờ kênh Vĩnh Tế, tả lại mực nước những năm lũ lớn. Hình ảnh: Hoàng Nam

Ông Sáu là người địa phương trước đây, từ đời ông cố đến đời cháu đều bám vào vùng đất ven kênh Vĩnh Tế để mưu sinh. Những năm 1990 trở về trước, vào mùa khô, lòng kênh Vĩnh Tế có đoạn cạn đến mức trơ trọi những cồn cát, chỉ cần xắn quần lội qua là có thể thấy được. Vào mùa lũ, nước mênh mông “bò” đến tận chân những ngôi nhà sàn. Ngày ấy, đất hai bên kênh bỏ hoang. Người dân chủ yếu chỉ làm một vụ trong năm, chỉ đủ ăn.

Trong ký ức của lão nông, cuộc sống lúc bấy giờ tuy không đầy đủ nhưng quanh năm không thiếu tôm cá. Tôm, cá lóc, cá bông lau mỗi lần đánh bắt được 4-5 kg ​​là chuyện bình thường, cá linh đi từng đoàn dài hàng cây số, chỉ cần đưa “bò” (một loại ngư cụ bằng tre) xuống kênh câu mỗi ngày một lần. ăn không hết. Có nhiều cá đến nỗi mỗi khi trời mưa, sấm chớp, cả đàn lớn làm nước giật mình kêu lên.

Nước sông lúc đó chưa ô nhiễm nhiều, người dân sống ven bờ chỉ cần múc vào vại, lấy phèn lọc ra lọc lấy nước là có thể dùng được. Năm 2000, tuyến dân cư ấp Phú Nhứt được hình thành. Tiếc rằng ngôi nhà sàn bằng gỗ còn mới, ông đã nhờ “thần tài” chuyển cả ngôi nhà về hàng lối, cách nhà cũ 60 m. Ở cái tuổi xưa nay hiếm, 6ha đất trồng lúa được ông chia cho 4 người con và 7 người cháu.

Ông Nguyễn Văn Thanh, Phó Chủ tịch UBND xã An Phú cho biết, kênh Vĩnh Tế đoạn qua ấp Phú Nhứt, Phú Tân có chiều dài hơn 4,5 km. Toàn xã có trên 400 ha lúa hai vụ và cây ăn quả. Năm nào vào mùa khô, tàu thuyền đi lại khó khăn do lòng kênh khô cạn, người lái lúa phải thuê tàu nhỏ trung chuyển lúa nên giá thu mua của nông dân thấp hơn.

“Tàu, thuyền mắc cạn phải đợi nước dâng cao 6-7 tiếng, có trường hợp tàu chở lúa bị mắc cạn, lật úp, cả lúa đổ xuống sông”.

Kênh Vĩnh Tế đoạn qua xã An Phú, bên trái kênh là nhánh dẫn dòng khi kênh chính rút ra phá đá ngầm.  Ảnh: Hoàng Nam

Kênh Vĩnh Tế đoạn qua xã An Phú, bên trái kênh là nhánh dẫn dòng khi kênh chính rút ra phá đá ngầm. Hình ảnh: Hoàng Nam

Cách nhà ông Sáu khoảng một km, những ngày cuối tháng 4, dự án nạo vét kênh Vĩnh Tế đang trong giai đoạn hoàn thiện, chỉ còn khoảng 4 km. Dự án có tổng vốn 200 tỷ đồng cho 46 km đoạn kênh được nạo vét. Sau khi cải tạo, đáy kênh sẽ rộng 35m, sâu 3,5m, sâu 7m.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn Du, Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông và nông nghiệp An Giang cho biết, đoạn khó nhất của dự án chỉ cách hai km. Vì con kênh qua xã An Phú (Tịnh Biên) bên dưới có nhiều đá ngầm. Đơn vị thi công phải đào thêm một con kênh rộng 20m, song song với con kênh này cho tàu vào tạm, sau đó đắp hai đầu kênh để chặn dòng, thoát nước.

Một số phương án để phá đá đã được đề xuất, phương án cuối cùng sử dụng chất nổ. Tuy nhiên, đáy kênh chủ yếu là đá non và đá sa thạch nên việc chẻ đá đưa đi sẽ ít tốn kém hơn. Ban đầu, đơn vị thi công dùng máy xúc để nạo đá nhưng không được, sau đó phải chuyển sang phương án gắn đầu búa vào máy xúc để phá đá.

“Chỉ đoạn hai km mà phải mất gần một năm mới hoàn thành, mới thấy được công sức của tổ tiên gần 200 năm trước”, ông Dự nói.

Ngược dòng lịch sử, theo tác giả Nguyễn Văn Hậu trong sách Thoại Ngọc Hầu và những khám phá vùng Hậu GiangĐốc trấn Vĩnh Thạnh Nguyễn Văn Thoại (Thao Ngọc Hầu) là người trực tiếp chỉ huy việc đào kênh Vĩnh Tế.

Để con kênh được thẳng, người xưa đợi ban đêm, bật lau sậy hoang, đốt đuốc lên đầu cột rồi nhắm thẳng. Muốn điều khiển những “cột lửa” đó đi thẳng, nhóm công nhân cầm chiếc đèn rọi lớn, đứng trên cao vẫy qua vẫy lại ra hiệu cho người cầm sào tìm đúng vị trí.

Kênh Vĩnh Tế chảy qua tỉnh An Giang và Kiên Giang.  Đồ họa: Khánh Hoàng

Kênh Vĩnh Tế chảy qua tỉnh An Giang và Kiên Giang. Đồ họa: Khanh Hoang

Việc đào kênh kéo dài tới 5 năm, từ tháng 12 năm 1819 đến tháng 5 năm 1824 được chia thành ba giai đoạn. Tổng cộng, hơn 80.000 người phải được huy động. Kênh dài 87 km, chiều rộng trung bình 30 m, độ sâu trung bình khoảng 2,55 m. Trừ các đoạn sông, kênh hiện có, đoạn kênh cần đào mới là 37 km.

Để đẩy nhanh tiến độ, chính quyền đôi khi buộc dân quân phải làm việc cả đêm. Có những đoạn gần chân núi, đất toàn đá, sỏi nên phải dùng thuổng sắt dày cộp dùng vồ để đào xuống. Có nhiều trường hợp do buồn ngủ vì phải làm đêm, công nhân mất tích đã dùng chày đập đầu vào đầu nhau và tử vong.

Ngoài ra, còn có hổ rình mồi, nhiều rắn độc, bệnh tật, nhiều người phải chạy trốn. Những người bị bắt lại sẽ bị trừng phạt lao động khổ sai liên tục trên công trường. Những người may mắn trốn thoát và bị lạc trong rừng chắc chắn sẽ chết đói và trở thành mồi cho thú rừng.

Khi đó, trên sông Vàm Nao có rất nhiều cá mập. Những người đào tẩu đợi đến khuya, tụ tập thành từng nhóm lớn, mỗi người cầm cây chuối làm ống nổi rồi lần lượt nhảy xuống nước và lội để cá ăn không kịp. Tuy nhiên, trong số mười người, chỉ có ba trong số mười người sống sót, và đôi khi tay chân của họ thậm chí bị cắt cụt.

Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua ra lệnh đúc Cửu Đỉnh làm bảo vật quốc gia và tượng trưng cho sự trường tồn của hoàng tộc, trên đỉnh có khắc kênh Vĩnh Tế. Bà Châu Thị Tế, vợ Thoại Ngọc Hầu người Châu Vinh vì có công giúp chồng đào kênh nên cũng được vua đặt tên là kênh.

Đoạn đầu của kênh Vĩnh Tế giáp sông Châu Đốc.  Ảnh: Hoàng Nam

Đoạn đầu của kênh Vĩnh Tế giáp sông Châu Đốc. Hình ảnh: Hoàng Nam

Sinh ra ở thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, GS.TS Võ Tòng Xuân cho rằng kênh Vĩnh Tế không chỉ mang lại nguồn nước ngọt, phù sa cho đồng ruộng An Giang mà cả tứ giác Long Xuyên và cả vùng. khu vực giáp Campuchia. Từ đó, nhiều địa phương đã từng bước mở rộng diện tích trồng lúa. Trước đây, khi chưa có đường, thương lái muốn vào vùng sâu, vùng xa thu mua nông sản đều phải đi qua kênh này.

Ngoài vai trò chiến lược về quốc phòng, kênh Vĩnh Tế còn là huyết mạch giao thương hàng hóa từ thành phố Châu Đốc đến thành phố Hà Tiên, hàng hóa từ nước ngoài từ đó vào Việt Nam cũng thuận lợi.

“Điều kiện tiên quyết giúp một đất nước phát triển là giao thông thuận lợi, điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược của ông cha ta hàng trăm năm trước khi kênh Vĩnh Tế được đào”, GS.TS Võ Tòng Xuân nói.

Sau 198 năm, phù sa trên kênh Vĩnh Tế vẫn tiếp tục theo chân con người, vun đắp cuộc sống ở vùng An Phú xa xôi theo đúng nghĩa đen. Một dự án khu dân cư đang được hình thành, phần nền phía dưới được bồi đắp từ 120.000 tấn bùn thu hồi trong quá trình nạo vét kênh.

“Sau khi tuyến đường này hoàn thành, chúng tôi sẽ tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng để hỗ trợ 300 hộ dân còn lại sống ven kênh”, Phó Chủ tịch UBND xã An Phú cho biết.

Vĩnh Tế - con kênh lớn nhất miền Tây

Nhịp sống bên dòng kênh Vĩnh Tế. Video: Hoàng Nam

Hoàng Nam

Nguồn: https://vnexpress.net/vinh-te-kenh-dao-lon-nhat-mien-tay-4447030.html

Tin Tức 7S

Tin tức 7s: Cập nhật tin nóng online Việt Nam và thế giới mới nhất trong ngày, tin nhanh thời sự, chính trị, xã hội hôm nay, tin tức chính thống VN.Cập nhật tin tức 24/7: Giải trí, Thể thao...tại Việt Nam & Thế giới hàng ngày. Thông tin, hình ảnh, video clip HOT cập nhật nhanh & tin cậy nhất.

Related Articles

Leave a Reply

Your email address will not be published.

Back to top button